Số 1 - Đào Duy Anh - Hà Nội (84) 24 35770825/29
Cổng thông tin nội bộ Liên hệ
16/082019
Các vùng biển và các quyền liên quan của quốc gia ven biển

Các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển được xác định theo UNCLOS 1982.

 

 

UNCLOS 1982

UNCLOS 1982 là tên gọi tắt của cụm từ Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (tiếng Anh: The United Nations Convention on the Law of the Sea, viết tắt là UNCLOS 1982).

Sau 5 năm họp trù bị (1967-1972), năm 1973, Liên Hợp Quốc chính thức triệu tập Hội nghị lần thứ 3 về Luật biển. Sau 9 năm thương thảo, với 11 khóa họp, ngày 30 tháng 4 năm 1982, Hội nghị đã thông qua được Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, với tỷ lệ 130 phiếu thuận, 4 phiếu chống, 17 phiếu trắng và 2 nước không tham gia bỏ phiếu. Sau đó, ngày10 tháng 12 năm 1982, tai Montego Bay (Jamaica), 118 Đoàn đại biểu quốc gia đã chính thức ký UNCLOS 1982. Công ước có hiệu lực từ ngày 16 tháng 11 năm 1994, sau khi có 60 quốc gia nộp hồ sơ phê chuẩn.

Công ước bao gồm 17 phần với 320 điều khoản, 9 Phụ lục, 4 Nghị quyết kèm theo, chứa đựng khoảng 1.000 quy phạm pháp luật quốc tế. Đây là một văn kiện pháp lý quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao hàm tất cả những nội dung quan trọng nhất trong luật pháp và thực tiễn quốc tế về biển và đại dương thế giới; trong đó, quan trọng nhất là thống nhất phương pháp xác định phạm vi không gian của các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước ven biển, quy định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của mọi quốc gia, có biển và không có biển, phát triển hay đang phát triển, trên nhiều lĩnh vực, như an ninh, bảo vệ môi trường, thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên, giao thông liên lạc, nghiên cứu khoa học và công nghệ… trên các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, cũng như các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia.

Nội dung của UNCLOS1982 được thể hiện bằng các ngôn ngữ Ả Rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha.Việt Nam là một trong 130 nước bỏ phiếu thông qua Công ước và sau đó, năm 1982, cùng 117 nước khác ký kết Công ước.

Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Công ước và Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Đường cơ sở

UNCLOS 1982 đã quy định phương pháp vạch Đường cơ sở – tức là vạch mốc để từ đó xác định được phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia ven biển. Theo đó, đối với các quốc gia ven biển, không thuộc nhóm quốc gia quần đảo, có 2 loại đường cơ sở được áp dụng là: đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng.

Đường cơ sở thông thường là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển.

Đường cơ sở thằng là đường nối các điểm thích hợp ở những nơi mà bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nơi có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển hoặc nơi mà bờ biển cực kỳ không ổn định do có sự hiện diện của các châu thổ hoặc các đặc điểm tự nhiên khác.

Tuyến đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn liền với đất liền.

Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế.

Trong trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng.

Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền về kinh tế.

Đường cơ sở của một quốc gia do chính quốc gia đó xác định trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982 và công bố cho toàn thế giới bằng một hệ tọa độ địa lý được thể hiện trên một loại hải đồ có tỷ lệ thích hợp. Vì vậy, không có quy định nào bắt buộc phải tiến hành xây dựng các cột mốc để đánh dấu vị trí các điểm cơ sở dùng để nối các đoạn cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Điều 8, Luật Biển Việt Nam quy định: “Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Uỷ ban thường vụ Quôc hội phê chuẩn”. Theo quy định này thì Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1982 vẫn còn hiệu lực. Theo đó, “đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gẫy khúc nối liền các điểm có tọa độ ghi trong phụ lục kèm theo Tuyên bố này”.

Thưc hiên Điều 8 của Luật Biển Việt Nam, thời gian tới Việt Nam sẽ tiếp tục công bố bổ sung một số đoạn đường cơ sở thẳng còn thiếu hoặc chưa phù hợp.

 

Các vùng biển và các quyền liên quan của quốc gia ven biển - Ảnh 1.

Các vùng biển và các quyền liên quan của quốc gia ven biển - Ảnh 2.

 

Các vùng biển

UNCLOS 1982 quy định mỗi quốc gia ven biển có quyền xác lập có 5 loại vùng biển quan trọng, gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa.

Nội thủy

UNCLOS1982 quy định: “Các vùng nước ở phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng Lãnh hải và tiếp liền với bờ biển là Nội thủy của quốc gia ven biển”. Theo định nghĩa này, Nội thủy bao gồm cửa sông, vũng, vịnh, cảng biển và vùng nước ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển; vùng nước lịch sử cũng theo chế độ Nội thủy. Nội thủy được coi như là bộ phận lãnh thổ trên đất liền của quốc gia ven biển.

Luật Biển Việt Nam năm 2012 quy định Nội thủy của Việt Nam là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở, và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.

Lãnh hải

Lãnh hải (tiếng Anh là Territorial Sea, Territorial Water), khác với các khái niệm chung chung như “hải phận” hay “vùng biển”. Đó là vùng biển ven bờ nằm ngoài đường cơ sở và tiếp liền với lãnh thổ đất liền hoặc với Nội thủy của quốc gia ven biển, có một bề rộng nhất định được đo tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển đó.

Đối với các đảo riêng lẻ hay nằm trong một quần đảo không phải là Quốc gia quần đảo, nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn được quy định tại Điều 121, Công ước Luật Biển 1982, thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, nhưng nằm ngoài phạm vi lãnh hải của quốc gia này, thì lãnh hải của từng đảo này cũng được xác định như trên.

Chiều rộng Lãnh hải do quốc gia ven biển xác định không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở theo đúng các tiêu chuẩn chung do Công ước Luật Biển 1982 quy định.

Vùng tiếp giáp lãnh hải

Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 đã quy định rằng: Một vùng biển ở ngoài và tiếp liền với Lãnh hải gọi là Vùng tiếp giáp lãnh hải. Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Như vậy, Vùng tiếp giáp lãnh hải theo định nghĩa của Công ước Luật Biển 1982 có chiều rộng là 12 hải lý.

Điều 13, Luật Biển Việt Nam quy định: “Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài Lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài lãnh hải”.

Vùng Đặc quyền về kinh tế

Vùng Đặc quyền kinh tế lần đầu tiên được ghi nhận trong Công ước Luật Biển 1982. Đây là một vùng biển đặc thù, trong đó Quốc gia ven biển có những thẩm quyền riêng biệt nhằm mục đích kinh tế, tuân theo những quy định của Công ước Luật Biển 1982. Điều 57, Công ước Luật Biển 1982 quy định chiều rộng Vùng Đặc quyền kinh tế “không được mở rộng ra quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Lãnh hải”.Phù hợp với quy định của Công ước 1982, Luật Biển Việt Nam quy định cụ thể: Vùng Đặc quyền về kinh tế của Việt Nam là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài Lãnh hải Việt Nam, hợp với Lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ cơ sở. Theo đó, chiều rộng thật sự của vùng Đặc quyền về kinh tế là 188 hải lý, nếu chiều rộng Lãnh hải của Quốc gia ven biển xác định là 12 hải lý. Phạm vi không gian của Vùng Đặc quyền kinh tế theo quy định của Luật Biển còn được mở rộng tới đáy và lòng đất dưới đáy và lên vùng trời tương ứng với phần nước biển của Vùng Đặc quyền về kinh tế.

Thềm lục địa

Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 đã định nghĩa Thềm lục địa pháp lý như sau: ” Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”.

Như vây, Thềm lục địa pháp lý theo định nghĩa này bao gồm toàn bộ Rìa lục địa (Thềm lục địa tự nhiên, Dốc lục địa và Bờ ngoài của Rìa lục địa). Ở nơi nào Rìa lục địa không ra đến 200 hải lý thì Thềm lục địa pháp lý được mở rộng ra đến 200 hải lý. Ở nơi nào Rìa lục địa vượt quá 200 hải lý thì ranh giới ngoài của Thềm lục địa được xác định bằng cách nối các điểm ở nơi mà bề dày trầm tích ít nhất cũng bằng 1% khoảng cách từ các điểm đó đến chân dốc lục địa, hoặc nối các điểm cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý. Tuy nhiên, dù được xác định như trên, giới hạn tối đa của Thềm lục địa cũng không được vượt quá 350 hải lý hay không được cách đường đẳng sâu 2.500m quá 100 hải lý.

Đối với các đảo xa bờ của quốc gia ven biển, nếu thích hợp cho con người sinh sống và có đời kinh tế riêng, thì mới có vùng Thềm lục địa riêng của các đảo đó.

Các quyền quốc gia đối với các vùng biển

UNCLOS quy định một số quyền cơ bản của các quốc gia ven biển đối với các vùng biển của mình, gồm: chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia”

Chủ quyền quốc gia

Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia có quyền tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia phải do quốc gia đó quyết định, các quốc gia khác cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp. Mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó phải tuân thủ pháp luật của quốc gia nếu điều ước quốc tế mà quốc gia đã ký kết không có quy định khác.

Chủ quyền quốc gia trên biển

Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền của mình một cách tuyệt đối, đầy đủ, toàn vẹn ở trong vùng nội thủy, bởi vì, nội thủy được coi là bộ phận đất liền như ao hồ, sông suối, các vùng nước nằm trong đất liền.

Đối với vùng lãnh hải thì quốc gia ven biển không được thực hiện chủ quyền một cách tuyệt đối. Tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền “đi qua vô hại” trong lãnh hải của quốc gia ven biển, với những quy định kiểm soát chặt chẽ của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS1982. Tuy nhiên, các quốc gia ven biển vẫn được thực hiện chủ quyển của mình đối với vùng lãnh hải của mình một cách đầy đủ và toàn vẹn. Nghĩa là chủ quyền quốc gia được tính đầy đủ và toàn vẹn cả vùng trời trên lãnh hải, vùng biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong lãnh hải. Mọi hoạt động của quốc gia khác trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia ven biển mà không tuân thủ luật pháp của quốc gia ven biển và Luật pháp quốc tế hiện hành, đều bị coi là hành động xâm phạm biên giới, lãnh thổ của quốc gia ven biên; quốc gia ven biển có quyền sử dụng mọi biện pháp, kể cả biện pháp quân sự để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong phạm vi nội thủy và lãnh hải được xác lập theo đúng qui định của UNCLOS 1982.

Trong Biển Đông, ngoài việc thực thi và bảo về chủ quyền ở vùng nội thủy, lãnh hải mà phạm vi của chúng được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng theo Tuyên bố của Chinh phủ Việt Nam, Việt Nam còn có chủ quyền đối với nhiều đảo, quần đảo trong Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.

Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm giữ trái phép quần đảo Hoàng Sa; Trung Quốc và một số quốc gia khác trong khu vực đang chiếm đóng trái phép một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia

Quyền chủ quyền là quyền riêng biệt của quốc gia được thực thi trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là quyền có nguồn gốc chủ quyền , mang tính chất chủ quyền.

Quyền tài phán là hệ quả của chủ quyền và quyền chủ quyền, có tác dụng bổ trợ tạo ra môi trường để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền. Như vậy, quyền tài phán gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ quốc gia. Tuy vậy, quyền tài phán cũng có thể thực thi ở nơi mà quốc gia đó không có chủ quyền. Chẳng hạn, quyền tài phán có thể được áp dụng trên tàu thuyền, phương tiện treo cờ của quốc gia đó khi chúng đang hoạt động trong các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia khác. Quyền tài phán theo nghĩa rộng bao gồm:

– Thẩm quyền đưa ra các quyết định, quy phạm;

– Thẩm quyền giám sát việc thực hiện;

– Thẩm quyền xét xử của tòa án đối với một lĩnh vực cụ thể; theo nghĩa hẹp đó là thẩm quyền pháp định của tòa án khi xét xử một người hay một việc.

Khi thực hiện các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của mình, quốc gia ven biển có nghĩa vụ tôn trọng quyền lợi của các quốc gia khác, không được có hành vi cản trở quyền tự do hàng hải và tự do hàng không của tàu thuyền và các phương tiện bay, quyền tự do đặt cáp và ông dẫn dầu ngầm; không được có hành vi phân biệt đối xử trong việc các quốc gia khác thực hiện các quyền được UNCLOS 1982 quy định.

VTV.VN