Số 1 - Đào Duy Anh - Hà Nội (84) 4 35770825/29
Cổng thông tin nội bộ Liên hệ
12/072017
Tiềm năng hợp tác cảng biển và logistics giữa Việt Nam – Hà Lan

Trong ngày cuối cùng của chuyến thăm chính thức Hà Lan 11/7/2017, một số doanh nghiệp về hạ tầng cảng biển tháp tùng đã tham gia chương trình thăm quan cảng Rotterdeam cùng Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Tại đây, được sự ủy quyền của lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải, Q.Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam Nguyễn Cảnh Tĩnh đã có buổi thuyết trình trước lãnh đạo Chính phủ, quan chức và các doanh nghiệp hai nước về tình hình phát triển cảng biển Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và những tiềm năng về hợp tác trong phát triển giao thông vận tải nói chung và cũng như cảng biển nói riêng.

 

Q.Tổng giám đốc Vinalines Nguyễn Cảnh Tĩnh thuyết trình về tình hình phát triển cảng biển tại Việt Nam

 

Với lợi thế tự nhiên là quốc gia có vùng biển rộng, bờ biển dài và có chỉ số hàng hải (maritime index) là 0,01 (trung bình 100km2 đất liền có 01 km bờ biển), cao gấp 6 lần tỷ lệ này của thế giới. Dọc bờ biển có nhiều vũng vịnh sâu kín gió, lại gần các tuyến hàng hải lớn của thế giới, Việt Nam rất có tiềm năng trong việc phát triển các cảng nước sâu, cảng trung chuyển quốc tế lớn.

Đến hết năm 2016, Việt Nam có 44 cảng biển, với 219 bến cảng hơn 103.000 lượt tàu biển Việt Nam và nước ngoài cập cảng, tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt gần 460 triệu tấn (trong đó hàng container đạt gần 12 triệu TEUs). Dự báo đến năm 2030 tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt hơn 1.100 triệu tấn (trong đó lượng hàng container đạt hơn 40 triệu TEUs).

Qua chuyến thăm của thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, được biết Hà Lan là một quốc gia hẹp, người đông, không có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, Hà Lan đã biết sử dụng thế mạnh của mình là một quốc gia ven biển, cửa khẩu của 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh, Pháp, Đức để phát triển các ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải sông…Hà Lan hiện đứng thứ 17 trên thế giới về kinh tế, thứ 5 trong EU về qui mô GDP. Dịch vụ là ngành mũi nhọn hết sức phát triển ở Hà Lan, gồm vận tải thủy, cảng biển, sân bay, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và tư vấn. Hơn 30% lượng hàng hóa ra vào EU được bốc dỡ qua cảng của Hà Lan. Cảng Rotterdam trong nhiều năm liền là hải cảng lớn  nhất của thế giới, với công suất hơn 400 triệu tấn/năm. Đây là những điều mà phía Việt Nam hết sức quan tâm để học tập kinh nghiệm.

Thay mặt cho phía Việt Nam, Q.Tổng giám đốc Nguyễn Cảnh Tĩnh cũng đề nghị phía Hà Lan chia sẻ về kinh nghiệm quản lý và khai thác cảng, phối hợp thu hút và tăng cường hàng đến và đi từ cảng Rotterdam thông qua trung chuyển tại khu vực cảng Cái Mép – Thị Vải của Việt Nam. Ngoài ra, phía Việt Nam cũng đề nghị trao đổi về khả năng hợp tác cùng đầu tư và khai thác một số bến cảng và khu hậu cần sau cảng tại khu vực Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng và Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong.

 

Lãnh đạo Chính phủ, quan chức và các doanh nghiệp Việt Nam – Hà Lan chia sẻ về kinh nghiệm quản lý và khả năng hợp tác đầu tư khai thác cảng

 

Với nhu cầu nguồn vốn đầu tư từ 80-100 ngàn tỷ đồng (khoảng 4-5 tỷ USD), Chính phủ Việt Nam khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành khai thác, chế biến dầu khí; cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển. Trong đó các cảng cửa ngõ, cảng trung chuyển ở ba khu vực kinh tể trọng điểm được hết sức quan tâm. Ba dự án cảng lớn có tính chất trọng điểm ở ba miền Bắc – Trung – Nam được Q.Tổng giám đốc Nguyễn Cảnh Tĩnh nêu lên bao gồm cảng cửa Ngõ quốc tế Lạch Huyện giai đoạn 2020-2025 có thể tiếp nhận tàu 50.000DWT (tàu 100.000 DWT giảm tải) tàu công-ten-nơ đến 6.000 TEU (tàu 8.000 TEU giảm tải), công suất 35 – 41 triệu tấn/năm; 2025 – 2030: tiếp nhận tàu tổng hợp trọng tải 100.000 DWT, tàu công-ten-nơ tới 8.000TEU hoặc hơn, công suất 118 – 136 triệu tấn/năm. Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong Năm 2020: thông qua 1,0 triệu tấn/năm; Năm 2025 thông qua khoảng 1,5-2,0 triệu tấn/năm. Năm 2030 thông qua khoảng 6,0 triệu tấn/năm. Cảng cửa ngõ Quốc tế Vũng Tàu năm 2020 thông qua khoảng 85,7 – 131,1 triệu tấn/năm (5,0 – 8,2 triệu TEU/năm).